Danh xưng trong Phật Giáo
Danh xưng trong Phật Giáo
Tác giả: Minh Tuệ | thuctinh.vn
Không phải ai hiểu Đạo Phật cũng nắm rõ danh xưng và cách xưng hô trong Đạo Phật. Xưng hô không đúng có thể bị hiểu là chưa hiểu Đạo, và quan trọng hơn sẽ phạm phải sự vô lễ, thiếu kinh trọng, và không thể hiện đúng lòng tôn kính với các bậc Tăng, Ni (Sa môn).
Để phân biệt và sử dụng đúng danh xưng, cách xưng hô của các Sư, Thầy, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, chúng ta dựa vào hai khái niệm: tuổi đời và tuổi Đạo. Tuổi đời là là tuổi được tính từ khi con người được sinh ra, trong khi tuổi Đạo được tính từ năm thọ Cụ túc giới, đồng thời hàng năm phải tùng hạ tu học theo chúng và đạt tiêu chuẩn, mỗi năm như vậy được tính một tuổi hạ. Nghĩa là tuổi đạo còn được gọi là tuổi hạ (hay hạ lạp). Chỉ riêng giới cuả Tỳ kheo và Tỳ kheo ni mới được gọi là giới Cụ túc. Giới Cụ túc nguyên ngữ Pàli là Upasampadà. Danh từ này là sự kết hợp của hai từ tố: Upa (Upaka) là gần lại, lui tới, lên cao; Sampàda (Sampatti) nghĩa là sự thành tựu, sự an vui, sự giác ngộ. Như vậy, Upasampadà được hiểu là tiến tới, bước lên bậc cao thượng. Thọ cụ túc giới ở đây chỉ những ai chứng tỏ được khả năng tu học, đủ điều kiện để tu học 250 giới với Tỳ kheo nam và 348 giới với Tỳ kheo ni. Thọ giới Cụ túc, hay thọ giới Tỳ kheo, Tỳ kheo ni cũng được hiểu là chính thức bước vào đời sống của bậc thánh. Giới cụ túc là giới đầy đủ, viên mãn, cao nhất trong Phật giáo để từng vị xuất gia tu tập cho đến lúc hết đời, không phải thụ giới nào cao hơn.
Trong Đạo Phật, việc xưng hô, sử dụng, xác định danh xưng cho đúng dựa theo tuổi Đạo, không tính tuổi đời. Tuổi đạo này chỉ tính những người tu tập liên tục, không đề cập đến những người tu đạo đứt quãng, không liên tục.
Một người có tuổi đời dưới 20 có lòng xuất gia, được gọi là chú tiểu hay điệu. Tùy theo tuổi đời của người này mà sẽ được giao làm các việc khác nhau, và học tập lễ nghi. Trong quá trình sinh sống và tu tập tại chùa, vị này sống đúng với 10 giới, chứng tỏ mình đã ly khai con đường trần lụy của thế gian, thì sẽ được gọi là Sa di đối với nam, Sa di ni đối với nữ hay thường thấy nhất là gọi Chú đối với nam và Ni cô đối với nữ. Đến năm được ít nhất là 20 tuổi đời, khi chứng tỏ được khả năng tu học, đủ điều kiện về tu tính cũng như tu tướng, được thọ giới Cụ túc thì vị này được gọi là Đại Đức (nam) hay Sư cô (nữ). Trên giấy tờ thì ghi là Tỳ Kheo (nam) hay Tỳ Kheo Ni (nữ) trước pháp danh của vị xuất gia.
Trong lúc hành đạo, tức là làm việc đạo trong đời, đem đạo độ đời, các danh xưng dưới đây được sử dụng theo Hiến chương của Giáo Hội Phật Giáo như sau:
Đối với Tăng:
- Ít nhất 20 tuổi đời, vị xuất gia thọ giới tỳ kheo, tu xuất gia ít nhất 2 năm được gọi là Đại Đức.
- Trên 45 tuổi đời, vị tỳ kheo được ít nhất 25 tuổi đạo, được gọi là Thượng Tọa.
- Trên 60 tuổi đời, vị tỳ kheo được ít nhất 40 tuổi đạo, được gọi là Hòa Thượng.
Đối với Ni:
- Ít nhất 20 tuổi đời, vị nữ xuất gia thọ giới tỳ kheo ni, tu xuất gia ít nhất 6 năm được gọi là Sư cô (cũng có nơi gọi các vị tỳ kheo ni này là Đại Đức bên Ni bộ).
- Trên 45 tuổi đời, vị tỳ kheo ni được 25 tuổi đạo, được gọi là Ni sư.
- Trên 60 tuổi đời, vị tỳ kheo ni được 40 tuổi đạo, được gọi là Sư bà hoặc Ni trưởng.

Đó là các danh xưng chính thức theo tuổi đời và tuổi đạo. Các danh xưng này được dùng trong việc điều hành Phật sự, trong hệ thống tổ chức của Giáo Hội Phật Giáo, được người khác sử dụng để xưng hô với các bậc Sa môn, không được lạm dụng tự xưng, tự phong, tự thăng cấp, mà phải được xét duyệt và chấp thuận bởi một hội đồng giáo phẩm có thẩm quyền, và được cấp giáo chỉ tấn phong, nhân dịp Đại Lễ hay Đại Hội Phật Giáo, trong các Giới Đàn, hay trong mùa an cư kết hạ hằng năm. Các danh xưng này là những từ tôn xưng, do người khác sử dụng để tỏ sự kính trọng đối với một vị tu sĩ Phật Giáo có trí tuệ, đức độ, chứ không phải là những từ dùng để tự xưng.
